Đại biểu Nguyễn Thị Thanh Bình: Cần hoàn thiện khung giá điện, PPA để tháo gỡ điểm nghẽn đầu tư

04/11/2026 51 lượt xem Tác giả: Mạnh Tưởng
Đại biểu Nguyễn Thị Thanh Bình (Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên) cho rằng, khung giá điện cần được cập nhật sát thực tế, phản ánh đầy đủ chi phí hợp lý; đồng thời, hợp đồng mua bán điện (PPA) cần hoàn thiện theo yêu cầu của thị trường quốc tế. Đây là những điều kiện quan trọng để tháo gỡ vướng mắc trong triển khai dự án điện và huy động nguồn vốn đầu tư, nhất là đối với các dự án LNG và điện gió ngoài khơi.
0:00 0:00

Chiều 3/11, Quốc hội thảo luận tại Hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực.

Phát biểu góp ý dự thảo Luật, đại biểu Nguyễn Thị Thanh Bình nhận định, thời gian qua, Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, nghị quyết nhằm thúc đẩy phát triển năng lượng, đặc biệt là năng lượng tái tạo và năng lượng xanh. Tuy nhiên, khoảng cách từ chủ trương, chính sách đến kết quả triển khai trên thực tế vẫn còn rất lớn.

Theo đại biểu, Quy hoạch điện VIII được phê duyệt năm 2023 và điều chỉnh năm 2025, nhưng tiến độ thực hiện vẫn chậm. Sau khi Quốc hội ban hành các nghị quyết liên quan, đến cuối năm 2025 và đầu năm 2026, nhiều địa phương mới bắt đầu lựa chọn nhà đầu tư. Điều này cho thấy trong khoảng 2-3 năm qua, chưa có dự án nguồn điện mới được đưa vào vận hành theo kỳ vọng, trong khi điểm nghẽn đã xuất hiện ngay từ khâu khởi đầu.

Nếu không có giải pháp đồng bộ, tình trạng chậm triển khai quy hoạch có thể tiếp tục kéo dài, ảnh hưởng đến khả năng bảo đảm cung ứng điện và mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Từ thực tế đó, đại biểu đề xuất một số nội dung nhằm hoàn thiện dự thảo luật.

Giám sát tiến độ liên thông, làm rõ trách nhiệm từng khâu

Đại biểu Nguyễn Thị Thanh Bình cho rằng, quy định nhà đầu tư phải bảo đảm tiến độ thực hiện dự án là cần thiết. Tuy nhiên, việc lựa chọn nhà đầu tư mới chỉ là bước đầu. Ngay cả khi hợp đồng mua bán điện đã được ký kết, vốn đầu tư được thu xếp và nhà máy hoàn thành, dự án vẫn có thể phải chờ giải tỏa công suất, hoàn thiện đấu nối và đáp ứng các điều kiện vận hành thương mại.

Đại biểu Nguyễn Thị Thanh Bình (Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên) phát biểu tại phiên thảo luận.
Đại biểu Nguyễn Thị Thanh Bình (Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên) phát biểu tại phiên thảo luận.

Theo đại biểu, mỗi khâu chậm vài tháng có thể khiến toàn bộ dự án kéo dài thêm một hoặc nhiều năm. Vì vậy, cần bổ sung tại Điều 12 và Điều 13 cơ chế giám sát tiến độ liên thông, với sự phối hợp giữa UBND cấp tỉnh, Bộ Công Thương, EVN và các đơn vị liên quan.

Đối với từng dự án, cần xây dựng kế hoạch tiến độ tổng thể, xác định rõ trách nhiệm và thời hạn xử lý ở từng bước, từ thẩm định, phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi, lập kế hoạch thi công, thỏa thuận đấu nối, đàm phán hợp đồng mua bán điện đến nghiệm thu và vận hành thương mại.

Đại biểu đề nghị quy định cụ thể thời hạn xử lý hồ sơ, trách nhiệm của từng cơ quan và cơ chế xử lý khi quá hạn. Đồng thời, cần phân định rõ nguyên nhân chậm trễ thuộc về cơ quan nhà nước, nhà đầu tư hay các đơn vị liên quan, tránh tình trạng trách nhiệm bị phân tán hoặc không được xác định rõ.

Một nội dung khác cần được làm rõ là trách nhiệm đầu tư các công trình lưới điện mới phục vụ giải tỏa công suất. Theo đại biểu, cần xác định cụ thể chủ đầu tư, trách nhiệm của các đơn vị liên quan, cùng thời hạn hoàn thành công trình lưới điện trước hoặc đồng thời với nhà máy điện. Đây là điều kiện để bảo đảm nhà máy có thể vận hành ngay khi hoàn thành, thay vì phải tiếp tục chờ hạ tầng đấu nối.

Khung giá điện cần phản ánh đầy đủ chi phí đầu tư

Về cơ chế giá điện, đại biểu Nguyễn Thị Thanh Bình cho rằng, cần xây dựng khung giá kịp thời, khách quan, phản ánh đầy đủ các chi phí và đủ sức thu hút đầu tư.

Đại biểu dẫn thực tế, khi xây dựng phương án giá điện năm 2026, EVN đã sử dụng số liệu của các dự án mẫu và báo cáo nghiên cứu khả thi được phê duyệt từ năm 2023, trước khi Luật Đất đai mới được ban hành. Trong khi đó, các chính sách mới về bồi thường, hỗ trợ có thể làm tăng đáng kể chi phí đầu tư, nhất là chi phí liên quan đến đất đai. Chi phí đầu tư dự án có thể tăng khoảng 5-10%.

Nếu tiếp tục sử dụng các thông số cũ, khung giá có thể không phản ánh đúng điều kiện đầu tư hiện nay, qua đó ảnh hưởng đến khả năng thu hút nhà đầu tư. Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung tại khoản 3 Điều 51 nguyên tắc cập nhật dữ liệu theo công nghệ và địa bàn áp dụng, bảo đảm tính đầy đủ của các chi phí, đặc biệt là chi phí đất đai.

Chính phủ cần quy định phương án cập nhật và xử lý biến động chi phí khi chính sách thay đổi hoặc các thông số đầu vào biến động. Việc xây dựng khung giá cũng cần được thực hiện bởi đơn vị có năng lực, độc lập với lợi ích thương mại của các bên.

Theo đề xuất của đại biểu, EVN là đầu mối cung cấp dữ liệu, Bộ Công Thương tổ chức thẩm định, phê duyệt khung giá. Khung giá cần được công bố hằng năm, chậm nhất trong quý I, kèm cơ chế chuyển tiếp trong trường hợp mức giá mới chưa được ban hành.

Hoàn thiện pháp luật điện lực và PPA để tăng khả năng huy động vốn

Đại biểu Nguyễn Thị Thanh Bình nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện cơ chế PPA đáp ứng các yêu cầu của thị trường quốc tế.

Theo mục tiêu, đến năm 2035, tổng công suất nguồn điện của Việt Nam phấn đấu vượt 200.000 MW. Riêng nhu cầu vốn đầu tư cho nguồn điện giai đoạn 2026-2035 lên tới hơn 100 tỷ USD. Quy mô này đòi hỏi phải huy động nguồn vốn lớn, trong đó có sự tham gia của các tổ chức tài chính và nhà đầu tư quốc tế có kinh nghiệm, năng lực quản trị và công nghệ.

Đại biểu Nguyễn Thị Thanh Bình cho rằng, cần hoàn thiện khung giá điện và cơ chế hợp đồng mua bán điện (PPA) nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn trong đầu tư các dự án nguồn điện. (Ảnh minh họa)
Đại biểu Nguyễn Thị Thanh Bình cho rằng, cần hoàn thiện khung giá điện và cơ chế hợp đồng mua bán điện (PPA) nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn trong đầu tư các dự án nguồn điện. (Ảnh minh họa)

Tuy nhiên, theo báo cáo của Bộ Công Thương tại cuộc họp ngày 1/10/2026, đến nay, trong 18 dự án điện khí LNG thuộc danh mục theo dõi, chỉ một dự án được đánh giá có khả năng đáp ứng tiến độ. Một nút thắt rất quan trọng là PPA chưa đáp ứng yêu cầu thu xếp vốn quốc tế. Vì vậy, ngay cả khi đã lựa chọn được nhà đầu tư, dự án vẫn có thể gặp khó khăn khi bước vào giai đoạn đàm phán hợp đồng.

Để tháo gỡ vướng mắc, đại biểu đề nghị tập trung hoàn thiện hai cơ chế. Trước hết, tại Điều 51, cần quy định nguyên tắc phân bổ hợp lý rủi ro tỷ giá, bảo đảm cân bằng giữa doanh thu bằng đồng Việt Nam và nghĩa vụ trả nợ bằng ngoại tệ của dự án.

Đại biểu đề xuất cho phép phần giá tương ứng với nghĩa vụ ngoại tệ hợp lý được điều chỉnh theo tỷ giá tham chiếu, trong khi việc thanh toán vẫn thực hiện bằng đồng Việt Nam. Cơ chế này cần được quy định cụ thể nhằm tăng khả năng tiếp cận vốn quốc tế, đồng thời hạn chế rủi ro cho nhà đầu tư.

Bên cạnh đó, tại khoản 2 Điều 51, cần nghiên cứu cơ chế giá linh hoạt hoặc có thời hạn áp dụng phù hợp với từng giai đoạn, đặc điểm nguồn điện và nhu cầu của hệ thống. Đặc biệt, cần xem xét cơ chế giá phù hợp đối với các loại hình nguồn điện đòi hỏi vốn đầu tư lớn và có thời gian thu hồi vốn dài như điện gió ngoài khơi và LNG.

Theo đại biểu, việc đồng bộ các giải pháp về tiến độ dự án, khung giá điện và cơ chế hợp đồng sẽ góp phần tháo gỡ những điểm nghẽn trong triển khai quy hoạch, tạo điều kiện huy động nguồn lực đầu tư và nâng cao khả năng bảo đảm cung ứng điện trong thời gian tới.

Chia sẻ: