Kỷ niệm 65 năm Ngày truyền thống PETROVIETNAM (27/11/1961-27/11/2026)

Dầu khí trong bài toán khôi phục kinh tế miền Bắc sau năm 1954

29/10/2026 143 lượt xem Tác giả: Minh Đức
Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, khôi phục sản xuất, giao thông và xây dựng những cơ sở công nghiệp đầu tiên đặt ra yêu cầu ngày càng lớn về nhiên liệu. Trong bối cảnh nguồn cung xăng dầu còn phụ thuộc từ bên ngoài, việc nghiên cứu, tìm kiếm tài nguyên dầu khí và chuẩn bị những điều kiện ban đầu để hình thành một ngành công nghiệp dầu khí đã trở thành vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với nền kinh tế Việt Nam.
0:00 0:00

Từ yêu cầu khôi phục kinh tế đến nhu cầu nhiên liệu

Hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác tài nguyên trên thềm lục địa Việt Nam đã được người Pháp tiến hành từ cuối thế kỷ XIX và được đẩy mạnh vào những năm đầu của thế kỷ XX, trong đó có hoạt động tìm kiếm, thăm dò dầu khí. Đến năm 1945, hoạt động này tiếp tục được người Nhật tiến hành. Tuy nhiên, những dữ liệu thu thập được cho thấy triển vọng dầu khí của nước ta là khá hạn chế, không có phát hiện lớn nào.

Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, dù phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, Chính phủ đã quan tâm tổ chức lại lĩnh vực này. Ngày 3/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh sáp nhập Sở Tổng thanh tra Khoáng chất và Kỹ nghệ thuộc Phủ Toàn quyền Đông Dương vào Bộ Quốc dân Kinh tế. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, việc phục hồi khai thác một số mỏ than, thiếc, chì và các khoáng sản khác tiếp tục được triển khai, phục vụ yêu cầu kháng chiến và đời sống nhân dân.

Trải qua hai thời kỳ: Khôi phục kinh tế (1955-1957) và Kế hoạch 3 năm cải tạo xã hội chủ nghĩa (1958-1960), miền Bắc đã nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, thiếu thốn để khôi phục và phát triển sản xuất, mọi mặt đời sống xã hội nhân dân có nhiều chuyển biến lớn lao. (Trong ảnh: Bốc xếp hàng tại cảng Hải Phòng năm 1959. Ảnh: Văn Lượng - TTXVN)
Trải qua hai thời kỳ: Khôi phục kinh tế (1955-1957) và Kế hoạch 3 năm cải tạo xã hội chủ nghĩa (1958-1960), miền Bắc đã nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, thiếu thốn để khôi phục và phát triển sản xuất, mọi mặt đời sống xã hội nhân dân có nhiều chuyển biến lớn lao. (Trong ảnh: Bốc xếp hàng tại cảng Hải Phòng năm 1959. Ảnh: Văn Lượng - TTXVN)

Sau năm 1954, miền Bắc bước vào một giai đoạn phát triển mới với nhiệm vụ khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả chiến tranh và xây dựng cơ sở vật chất cho quá trình phát triển lâu dài. Kế hoạch 3 năm khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa 1955-1957 được triển khai trong điều kiện nhiều cơ sở sản xuất bị phá hủy hoặc đình đốn, máy móc thiếu phụ tùng thay thế, nguyên liệu và các điều kiện phục vụ sản xuất còn nhiều hạn chế.

Trong quá trình ấy, nhiên liệu là một trong những điều kiện thiết yếu để các hoạt động sản xuất từng bước vận hành trở lại. Giao thông vận tải cần xăng dầu cho các phương tiện cơ giới; hoạt động công nghiệp cần năng lượng phục vụ máy móc, thiết bị; công tác xây dựng cơ sở hạ tầng cũng đặt ra những yêu cầu tương ứng về vận chuyển và cung ứng vật tư. Khi sản xuất được mở rộng, nhu cầu nhiên liệu không còn đơn thuần là vấn đề cung ứng hàng hóa, mà gắn trực tiếp với khả năng duy trì hoạt động của nền kinh tế.

Trong số các loại nhiên liệu, xăng dầu có vị trí đặc biệt bởi vai trò thiết yếu trong vận tải, cơ giới hóa cũng như một số hoạt động sản xuất. Việc bảo đảm nguồn cung vì thế đòi hỏi một hệ thống tổ chức tiếp nhận, bảo quản và phân phối phù hợp với yêu cầu của từng khu vực kinh tế.

Tháng 7/1955, lớp chuyên viên địa chất với 104 học viên được khai giảng tại chùa Láng, Hà Nội, do kỹ sư mỏ Hồ Đắc Liên trực tiếp phụ trách. Nhiều học viên sau này trở thành cán bộ nòng cốt của ngành địa chất và dầu khí. Năm 1956, Nha Khoáng chất và Kỹ nghệ được đổi thành Sở Địa chất.

Ngày 12/1/1956, Bộ Thương nghiệp ban hành Quyết định số 09/BTN thành lập Tổng công ty Xăng dầu mỡ. Theo tư liệu lịch sử, sự ra đời của tổ chức này nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng về cung cấp xăng dầu cho miền Bắc trong thời kỳ khôi phục kinh tế và xây dựng đất nước. Cùng với việc tiếp quản, khôi phục Sở dầu Thượng Lý, hệ thống kho xăng dầu tiếp tục được xây dựng tại Đức Giang, Bến Thủy, Việt Trì, Nam Định và Bắc Giang nhằm phục vụ các khu công nghiệp và vùng kinh tế quan trọng.

Đến tháng 7/1958, Sở Địa chất được đổi tên thành Cục Địa chất. Cùng với việc phát triển lực lượng trong nước, Việt Nam từng bước cử học sinh sang Liên Xô và Rumani học tập chuyên ngành dầu khí, chuẩn bị đội ngũ cho một lĩnh vực công nghiệp còn rất mới mẻ.

Những bước đi đó cho thấy bảo đảm nhiên liệu đã trở thành một nhiệm vụ cụ thể trong quá trình tổ chức lại nền kinh tế miền Bắc. Tuy nhiên, khôi phục hệ thống cung ứng và chủ động nguồn tài nguyên là hai vấn đề khác nhau. Một bên giải quyết nhu cầu trước mắt; bên còn lại đòi hỏi tầm nhìn dài hạn.

Vì sao Việt Nam cần chuẩn bị một ngành công nghiệp dầu khí?

Nếu việc tổ chức cung ứng xăng dầu đáp ứng yêu cầu vận hành nền kinh tế trong từng giai đoạn, thì xây dựng năng lực tìm kiếm và khai thác dầu khí hướng tới một mục tiêu rộng hơn. Đó là từng bước tạo cơ sở để chủ động hơn về nguồn tài nguyên và năng lượng.

Ở thời điểm giữa thập niên 1950, Việt Nam chưa có ngành công nghiệp dầu khí. Nguồn xăng dầu phục vụ miền Bắc phụ thuộc đáng kể vào nguồn cung từ bên ngoài, trong khi năng lực khảo sát, thăm dò và đánh giá tài nguyên trong nước còn ở giai đoạn đầu. Giữa thế kỷ XX, xăng dầu tại Việt Nam phụ thuộc vào viện trợ của Liên Xô. Để giảm sự phụ thuộc, nhu cầu xây dựng một nền công nghiệp dầu khí đã được đặt ra từ sớm.

Trong điều kiện khó khăn, việc nghiên cứu tiềm năng dầu khí trong lòng đất có ý nghĩa vô cùng to lớn. Khác với một số nguồn tài nguyên có thể nhận biết qua biểu hiện địa chất trên mặt đất, việc xác định các cấu tạo có triển vọng dầu khí đòi hỏi nghiên cứu tài liệu, khảo sát thực địa, phân tích cấu trúc địa chất và áp dụng các phương pháp chuyên môn.

Từ nghiên cứu ban đầu đến tổ chức thăm dò, rồi tiến tới khai thác thương mại là một quá trình dài, cần nhân lực được đào tạo, thiết bị chuyên dụng và nguồn lực đầu tư. Nếu triển vọng tài nguyên được xác định, Việt Nam sẽ có thêm cơ sở để hoạch định những bước đi tiếp theo trong lĩnh vực năng lượng. Ngược lại, nếu các dữ liệu địa chất chưa đủ tin cậy, mọi quyết định đầu tư cho hoạt động tìm kiếm, thăm dò đều tiềm ẩn rủi ro.

Vì thế, yêu cầu đặt ra với Việt Nam không chỉ là tìm kiếm nguồn nhiên liệu để giải quyết nhu cầu trước mắt, mà còn phải chuẩn bị những điều kiện ban đầu cho một ngành công nghiệp mới. Trong đó, ba vấn đề cần xác định gồm: triển vọng tài nguyên, đào tạo đội ngũ cán bộ và xây dựng cơ sở khoa học cho hoạt động tìm kiếm, thăm dò.

Điều tra địa chất - Những bước chuẩn bị đầu tiên

Một trong những điều kiện quan trọng để hình thành ngành công nghiệp dầu khí là xác định được những khu vực có triển vọng. Đối với Việt Nam, công việc này được triển khai từng bước thông qua việc nghiên cứu tài liệu địa chất, khảo sát thực địa và hợp tác với các chuyên gia nước ngoài trong phân tích, đánh giá tiềm năng dầu khí.

Chuyên gia Liên Xô N. K. Gryaznov.
Chuyên gia Liên Xô N. K. Gryaznov.

Ngày 7/4/1959, Chính phủ Việt Nam cho phép Tổng cục Địa chất ký Hợp đồng số 9431 với Bộ Địa chất Liên Xô về nghiên cứu địa chất, đánh giá triển vọng dầu khí tại miền Bắc Việt Nam.

Đến ngày 27/6/1959, đội khảo sát, nghiên cứu địa chất dầu khí được thành lập để triển khai hợp đồng. Cuối năm 1958, chuyên gia địa chất Liên Xô N.K. Gryaznov sang Việt Nam hỗ trợ xây dựng kế hoạch tìm kiếm những khu vực có triển vọng dầu mỏ. Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu địa chất do Sở Địa chất Đông Dương để lại, ông cùng các cán bộ Việt Nam tiến hành khảo sát tại khu vực Núi Lịch, Yên Bái.

Sự hợp tác này có ý nghĩa thiết thực trong bối cảnh Việt Nam còn thiếu kinh nghiệm chuyên sâu về địa chất dầu khí. Thông qua khảo sát và nghiên cứu chung, cán bộ Việt Nam có điều kiện tiếp cận phương pháp chuyên môn, tham gia xử lý tài liệu và tích lũy kinh nghiệm phục vụ những nhiệm vụ tiếp theo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến thăm Khu công nghiệp dầu lửa Baku (Azerbaijan) năm 1959. Ảnh tư liệu
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến thăm Khu công nghiệp dầu lửa Baku (Azerbaijan) năm 1959. Ảnh tư liệu

Năm 1959, khi tới thăm Khu công nghiệp dầu khí Baku, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói với các nhà lãnh đạo nước Cộng hòa Azerbaijan thuộc Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết (Liên Xô) rằng: “Tôi nghĩ Việt Nam chúng tôi có biển, nhất định sẽ có dầu, nhưng đang chiến tranh, chưa làm được. Tôi hy vọng và tin tưởng rằng, sau khi Việt Nam kháng chiến thắng lợi, các đồng chí sẽ giúp chúng tôi tìm ra dầu, khai thác và chế biến dầu, xây dựng được khu công nghiệp dầu khí như Baku”. Phát biểu ấy chính là kim chỉ nam định hướng lâu dài đối với việc xây dựng và phát triển ngành dầu khí Việt Nam.

Từ nghiên cứu triển vọng đến chuẩn bị tổ chức thăm dò

Quá trình điều tra địa chất trong những năm 1959-1961 đã tạo cơ sở cho việc hệ thống hóa các nhận định về triển vọng dầu khí ở miền Bắc Việt Nam. Tháng 4/1961, báo cáo tổng hợp về địa chất và triển vọng dầu khí ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được hoàn thành. Đây là công trình nghiên cứu có quy mô lớn đầu tiên của Việt Nam về địa chất và đánh giá triển vọng dầu khí trên một vùng lãnh thổ rộng lớn, tạo cơ sở khoa học ban đầu cho định hướng tìm kiếm, thăm dò về sau.

Từ kết quả nghiên cứu đó, công tác tổ chức tìm kiếm, thăm dò dầu khí được cụ thể hóa. Ngày 9/10/1961, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 159 về nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Địa chất. Ngày 27/11/1961, Tổng cục Địa chất ban hành Quyết định số 271-ĐC thành lập Đoàn Thăm dò dầu lửa 36, thường gọi là Đoàn 36.

Khảo sát địa chất trong những năm đầu tìm kiếm dầu khí tại miền Bắc Việt Nam. Ảnh tư liệu
Khảo sát địa chất trong những năm đầu tìm kiếm dầu khí tại miền Bắc Việt Nam. Ảnh tư liệu

Nhìn từ tiến trình đó, bài toán dầu khí của Việt Nam sau năm 1954 có hai tầng ý nghĩa. Trước mắt, miền Bắc phải khôi phục và tổ chức nguồn cung nhiên liệu để phục vụ sản xuất, giao thông và các hoạt động kinh tế. Về lâu dài, Việt Nam cần xây dựng năng lực nghiên cứu tài nguyên, đào tạo cán bộ và tổ chức tìm kiếm, thăm dò nhằm từng bước chủ động hơn về nguồn năng lượng.

Giữa hai mục tiêu ấy có một khoảng cách lớn về thời gian, kỹ thuật và nguồn lực. Nhưng chính việc nhận diện nhu cầu từ sớm, tiến hành khảo sát có hệ thống và tích lũy tri thức địa chất đã tạo nền tảng cho những bước phát triển sau này.

Chia sẻ: